Ngoài thế mạnh sản xuất lúa gạo, thủy sản, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn là vùng có tiềm năng du lịch rất lớn. Tuy nhiên, cũng giống như các lợi thế khác, du lịch ở đây vẫn trong thời kỳ “sơ khai”, chưa có quy hoạch tổng thể nên khó tránh khỏi tình trạng nhàm chán. Nhiều du khách nhận xét rằng: chỉ cần đến một nơi sẽ hình dung ra được tất cả các địa danh khác của miền Tây Nam bộ.

Lợi thế phát triển du lịch sông nước
ĐBSCL có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển ngành du lịch, tiếp giáp với Biển Đông, vịnh Thái Lan, Campuchia và TP.HCM, là khu vực có đường giao thông hàng hải, hàng không quốc tế quan trọng giữa Nam Á, Đông Á cũng như châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương. Do vậy, ở đây khá thuận lợi cho việc tiếp cận các thị trường du lịch cả trong nước và quốc tế.
ĐBSCL có hệ thống kênh rạch chằng chịt, tạo thành một vùng châu thổ trù phú với nhiều cảnh quan sông nước hữu tình, tính đang dạng sinh học cao, là tiềm năng du lịch độc đáo. Khu vực này có khí hậu ấm áp, chiều dài bờ biển dài 700 km, diện tích lãnh hải rộng 360.000km2 với nhiều cửa biển, cửa sông, đảo, đất ngập nước, cù lao châu thổ... Bên cạnh đó, ĐBSCL còn các vùng đất đồi núi, miệt vườn, vùng rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, du lịch lễ hội, làng nghề và người dân hiền hòa mến khách.
Những năm gần đây, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cũng không ngừng được mở rộng và nâng cao, các cơ sở vui chơi giải trí được tăng nhanh, các tỉnh trong vùng đang được đầu tư nhiều kinh phí, nâng cấp các thắng cảnh, nhằm thu hút khách du lịch. Đến nay, miền Tây đã có 50 điểm du lịch tiêu biểu được nâng cấp.
Du lịch các địa phương còn giống nhau
Một nhà nghiên cứu nhận xét, cách làm du lịch của ĐBSCL vẫn còn mang tính tự phát, chủ yếu lợi dụng yếu tố thiên nhiên và làm theo cách dễ nhất, chưa chú trọng đến nhu cầu của khách du lịch, cũng như chưa có quy hoạch và đầu tư hợp lý, làm cho sản phẩm đơn điệu, thiếu những điều kiện sinh hoạt căn bản. Hầu hết các điểm du lịch không có sự liên kết, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến bộ mặt du lịch chung của cả khu vực... Trong khi đó, hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ du lịch, công tác đào tạo, quản lí nhà nước, xúc tiến du lịch còn nhiều điểm cần khắc phục.
Một hạn chế khác là sản phẩm du lịch của ĐBSCL dễ bị trùng lắp do các tỉnh, thành ĐBSCL có nhiều nét tương đồng nên nhàm chán. Các địa danh du lịch của miền Tây chủ yếu đều là du lịch sinh thái, ẩm thực, du khách khó tìm ra được điểm du lịch khám phá hay du lịch văn hóa truyền thống để thay đổi “cảm giác”... Do vậy, du khách chỉ “dừng chân” mà không “giữ được chân”. Nguyên nhân là do chúng ta chưa tạo ra được sản phẩm du lịch đặc thù, độc đáo mang đậm nét đặc trưng của từng địa phương. Điều đó cũng chỉ ra rằng, vấn đề quan trọng hiện nay là phải giải quyết cho được bài toán liên kết nhằm tránh trùng lắp và cùng nhau xây dựng những sản phẩm du lịch khác biệt. Bởi vì, trong tương lai những hạn chế bất cập về cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch, sẽ dần được khắc phục bằng các chương trình, dự án xây mới, mở rộng, nâng cấp quốc lộ 1A, cầu Cần Thơ, sân bay quốc tế tại Cần Thơ và Phú Quốc.
Liên kết đồng bộ, xây dựng thương hiệu đủ mạnh
Tại Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL – Kiên Giang 2010, đại diện Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch cho rằng, để lĩnh vực du lịch của các tỉnh miền Tây phát triển, cần phải xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và có ý nghĩa quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của khu vực và cả nước. Trong đó, phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi trường và cộng đồng, lấy biển – đảo, sông làm lợi thế cạnh tranh để phát triển. Tăng cường liên kết với các địa phương trong nước, thậm chí cả ngoài nước được cụ thể hóa bằng chủ trương và cam kết có tính pháp lý cao đi liền trách nhiệm và quyền lợi, để các đối tượng liên quan triển khai thực hiện.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, địa phương về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch ĐBSCL, vùng đất đang sở hữu những tiềm năng du lịch lớn và có tính đặc thù so với cả nước. Nhanh chóng tổ chức triển khai khảo sát, thống kê, đánh giá... tiềm năng du lịch của từng tỉnh, cả khu vực ĐBSCL về các giá trị văn hóa, lịch sử, con người Tây Nam bộ chẳng hạn như, lễ hội truyền thống, danh thắng, các điểm đến, sản phẩm du lịch đặc thù... Trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL và từng tỉnh, thành phố trong một không gian thống nhất và đồng bộ để tạo được thế mạnh của vùng. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho vùng ĐBSCL cả về cán bộ quản lý và lao động trực tiếp bằng nhiều hình thức, chương trình phù hợp. Xây dựng và phát triển các công ty du lịch ngang tầm với quy mô và tiềm năng vùng ĐBSCL, tạo nên thương hiệu mạnh và uy tín lớn, có mạng lưới phục vụ rộng khắp vùng và hiệu quả cao. Chủ động và phát huy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch cho toàn vùng và từng địa phương bằng nhiều hình thức và phương tiện.

Cần có những giải pháp cụ thể để lợi thế sông nước miền Tây
không trở nên nhàm chán cho du khác
không trở nên nhàm chán cho du khác
Ảnh: Tr.M
Lợi thế phát triển du lịch sông nước
ĐBSCL có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển ngành du lịch, tiếp giáp với Biển Đông, vịnh Thái Lan, Campuchia và TP.HCM, là khu vực có đường giao thông hàng hải, hàng không quốc tế quan trọng giữa Nam Á, Đông Á cũng như châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương. Do vậy, ở đây khá thuận lợi cho việc tiếp cận các thị trường du lịch cả trong nước và quốc tế.
ĐBSCL có hệ thống kênh rạch chằng chịt, tạo thành một vùng châu thổ trù phú với nhiều cảnh quan sông nước hữu tình, tính đang dạng sinh học cao, là tiềm năng du lịch độc đáo. Khu vực này có khí hậu ấm áp, chiều dài bờ biển dài 700 km, diện tích lãnh hải rộng 360.000km2 với nhiều cửa biển, cửa sông, đảo, đất ngập nước, cù lao châu thổ... Bên cạnh đó, ĐBSCL còn các vùng đất đồi núi, miệt vườn, vùng rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, du lịch lễ hội, làng nghề và người dân hiền hòa mến khách.
Những năm gần đây, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cũng không ngừng được mở rộng và nâng cao, các cơ sở vui chơi giải trí được tăng nhanh, các tỉnh trong vùng đang được đầu tư nhiều kinh phí, nâng cấp các thắng cảnh, nhằm thu hút khách du lịch. Đến nay, miền Tây đã có 50 điểm du lịch tiêu biểu được nâng cấp.
Du lịch các địa phương còn giống nhau
Một nhà nghiên cứu nhận xét, cách làm du lịch của ĐBSCL vẫn còn mang tính tự phát, chủ yếu lợi dụng yếu tố thiên nhiên và làm theo cách dễ nhất, chưa chú trọng đến nhu cầu của khách du lịch, cũng như chưa có quy hoạch và đầu tư hợp lý, làm cho sản phẩm đơn điệu, thiếu những điều kiện sinh hoạt căn bản. Hầu hết các điểm du lịch không có sự liên kết, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến bộ mặt du lịch chung của cả khu vực... Trong khi đó, hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ du lịch, công tác đào tạo, quản lí nhà nước, xúc tiến du lịch còn nhiều điểm cần khắc phục.
Một hạn chế khác là sản phẩm du lịch của ĐBSCL dễ bị trùng lắp do các tỉnh, thành ĐBSCL có nhiều nét tương đồng nên nhàm chán. Các địa danh du lịch của miền Tây chủ yếu đều là du lịch sinh thái, ẩm thực, du khách khó tìm ra được điểm du lịch khám phá hay du lịch văn hóa truyền thống để thay đổi “cảm giác”... Do vậy, du khách chỉ “dừng chân” mà không “giữ được chân”. Nguyên nhân là do chúng ta chưa tạo ra được sản phẩm du lịch đặc thù, độc đáo mang đậm nét đặc trưng của từng địa phương. Điều đó cũng chỉ ra rằng, vấn đề quan trọng hiện nay là phải giải quyết cho được bài toán liên kết nhằm tránh trùng lắp và cùng nhau xây dựng những sản phẩm du lịch khác biệt. Bởi vì, trong tương lai những hạn chế bất cập về cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch, sẽ dần được khắc phục bằng các chương trình, dự án xây mới, mở rộng, nâng cấp quốc lộ 1A, cầu Cần Thơ, sân bay quốc tế tại Cần Thơ và Phú Quốc.
Liên kết đồng bộ, xây dựng thương hiệu đủ mạnh
Tại Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL – Kiên Giang 2010, đại diện Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch cho rằng, để lĩnh vực du lịch của các tỉnh miền Tây phát triển, cần phải xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và có ý nghĩa quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của khu vực và cả nước. Trong đó, phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi trường và cộng đồng, lấy biển – đảo, sông làm lợi thế cạnh tranh để phát triển. Tăng cường liên kết với các địa phương trong nước, thậm chí cả ngoài nước được cụ thể hóa bằng chủ trương và cam kết có tính pháp lý cao đi liền trách nhiệm và quyền lợi, để các đối tượng liên quan triển khai thực hiện.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, địa phương về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch ĐBSCL, vùng đất đang sở hữu những tiềm năng du lịch lớn và có tính đặc thù so với cả nước. Nhanh chóng tổ chức triển khai khảo sát, thống kê, đánh giá... tiềm năng du lịch của từng tỉnh, cả khu vực ĐBSCL về các giá trị văn hóa, lịch sử, con người Tây Nam bộ chẳng hạn như, lễ hội truyền thống, danh thắng, các điểm đến, sản phẩm du lịch đặc thù... Trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL và từng tỉnh, thành phố trong một không gian thống nhất và đồng bộ để tạo được thế mạnh của vùng. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho vùng ĐBSCL cả về cán bộ quản lý và lao động trực tiếp bằng nhiều hình thức, chương trình phù hợp. Xây dựng và phát triển các công ty du lịch ngang tầm với quy mô và tiềm năng vùng ĐBSCL, tạo nên thương hiệu mạnh và uy tín lớn, có mạng lưới phục vụ rộng khắp vùng và hiệu quả cao. Chủ động và phát huy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch cho toàn vùng và từng địa phương bằng nhiều hình thức và phương tiện.
QUỐC ĐỊNH
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|




