“Xã hội có cơm ăn áo mặc nhà ở là nhờ người lao động. Xây nên giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ người lao động. Trí thức mở mang cũng nhờ lao động (lao động trí óc). Vậy lao động là sức chính của tiến bộ loài người; cũng là sức mạnh của giải phóng dân tộc”.
(HỒ CHÍ MINH: “Gởi đồng bào lao động toàn quốc” 1-3-1948)
1. Nội dung của khái niệm “cần”
Người đời, lớn lên, ai cũng phải làm việc. Làm việc để mà sống. Trừ phi là thuộc vào hạng bóc lột, giàu có, không làm vẫn có ăn, còn đối với mọi người bình thường, nếu không làm việc thì không lấy gì để mà sống. Nói “cần” tức là nói làm việc, làm lụng.
Nói “làm việc”, “làm lụng”, chủ yếu nói lao động sản xuất: cày ruộng, cấy lúa, kéo sợi, dệt vải, xây dựng nhà cửa, chế tạo thuốc men, v.v…Nhưng không phải chỉ có thế; còn có những cái thuộc lãnh vực văn hoá chính trị, v.v… như đi học, viết sách, xét xử, đều là “làm việc”, đều là “cần”.
Nội dung của khái niệm “cần” trước hết là “làm việc”.
Phải làm việc siêng năng, làm việc có năng suất cao thì mới gọi là cần. Cần có nghĩa là siêng. Cụ Sào Nam viết (trong “Bài hát chữ cần”):
“Lời xưa rằng: cần tắc hữu công
Nhác thời chẳng việc gì xong
Siêng thì muôn việc ở trong tay mình”.
Như vậy, cần tức là siêng, đi đôi với xong việc, được việc. Làm cho có làm, làm không đem lại kết quả gì, thì chưa phải đã “cần”. Cũng theo Sào Nam, chẳng những cần thì lập nên công, cần lại là đường tắt vào nẻo thánh; trong lúc đó thì lười sinh tội, dắt vào ngõ đọa; thánh hay đọa ở đây không có nghĩa gì thần bí; thánh, nẻo thánh, là chỗ vinh quang, quý trọng, sáng suốt; đọa, ngõ đọa là nơi nhục nhằn, khốn khó, đen tối. Cụ Sào Nam viết tiếp:
“Người đâu phải ký sinh trùng
Có ăn có mặc há không có làm
Cần với đọa, thánh phàm chí lối
Công bởi siêng mà tội bởi lười”.
Gần trong vô luận nghề nghiệp, chức trách gì, xưa gọi là “cần nghiệp”.
Cần trong lao động sản xuất, xưa gọi là “cần lao”.
Cần trong việc học hành, xưa gọi là “cần học”
Cần trong việc hành chính, cai trị, xưa gọi là “cần chính”.
Ông cha ta trước kia, các sĩ phu từ thế kỉ 19 trở về trước, ai ai đều tán tụng các đức tính cần nghiệp, cần lao, cần học, cần chính, xem đó là biểu hiện của con người biết phận sự của mình trong gia đình, xã hội, đất nước. Ngày nay từ ngữ có đổi, ý nghĩa vẫn thế, chữ cần bao giờ cũng được tuyên dương.
Cần là nguồn gốc của sống còn, của hạnh phúc, của trí tuệ, của mọi sự tiến bộ của xã hội. Suy xa hơn nữa, cần là nguồn gốc của loài người. Sở dĩ con người hơn con vật, đầu tiên là ở chỗ làm ra công cụ, làm ra những món mình cần dùng chớ không phải chỉ lấy trực tiếp những món mình cần dùng đó trong tự nhiên. Nói một cách khác, con người hơn con vật đầu tiên ở chỗ cần lao, ở chỗ lao động sản xuất. Các nhà khảo cổ học thường nói: Cái mốc duy nhất phân biệt người và vượn là sự chế tạo ra một hòn đá khác thành công cụ, không cần biết công cụ đó là nguyên thuỷ hay tối tân, giản đơn hay phức tạp, thô dụng hay tinh xảo thế nào, thì kẻ chế tạo đó cũng được công nhận xếp vào phạm trù “người”; lịch sử con người bắt đầu từ sự chế tạo công cụ.
Cho nên nói: không có tính gì “người” hơn là cần.
Cần là đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của loài người. Những ai xa cách với cần, khinh thị chữ cần, xây lưng với chữ cần thì những kẻ ấy lần lần đi ngược với đức tính căn bản của loài người.
Cần có nghĩa sáng tạo cái mới, thêm vào cho thiên nhiên, biến đổi thiên nhiên, thêm vào cho xã hội, xây dựng cho xã hội cuộc sống của con người vượt lên hẳn cuộc sống của loài vật.
Do nơi cần và kinh nghiệm của cần mà con người tiến bộ trong việc làm ăn của mình; trước thì một người chỉ có thể nuôi một người một cách vất vả, sau thì một có thể nuôi vài ba năm bảy: sự tiến bộ ấy trong sản xuất một mặt sinh ra giai cấp và giai cấp bóc lột, nhưng mặt khác nó cũng tạo ra nhiều của cải vật chất cho phép một người nhất định có điều kiện thời gian và sinh sống để suy tư, để tạo ra và phát triển văn chương nghệ thuật, khoa học, triết lý. Xã hội loài người tiến lên trong sự phân công lao động xã hội đi vào văn minh, chính là do ở “cần” vậy.
Cho nên, nhìn chung, bất kỳ ở đâu, bất kỳ nơi nào, chữ “cần” đều được tôn trọng và các nhà hiền triết xưa nay, Đông Tây, đều ca tụng chữ “cần”. Sách “cần kiệm vựng biên” của Nguyễn Đức Đạt là một quyển sách góp nhặt lời vàng của người xưa về đức cần kiệm; đó là quyển sách giáo dục truyền thống gia đình thưở trước gọi là gia huấn. Hẳn không chỉ có gia đình Nam sơn phu tử làm như vậy. (Riêng thế kỉ 19 sách chữ Hán ở xứ ta còn nhiều bộ “Cần kiệm vựng biên” khác). Ở sách “Khổng tòng tử”, câu sau đây được gia đình Nguyễn Đức Đạt trích lục, lấy đó làm phương châm: “Kế của một đời là điều cần. Kế của một năm là mùa xuân. Kế của một ngày là ở giờ dần”. Ý muốn nói: Ngày ngày phải dậy sớm lo liệu việc cấy cày không được trễ nải; suốt năm phải siêng năng làm việc thì sẽ gặt hái được nhiều.
Sách “Nhan thị gia huấn” có câu” “Tích trữ của đời nghìn vạn, không bằng có một nghề mọn trong mình”.
“Và sách Hồ Chấn An”: Phàm cơ nghiệp trong nhà, hưng vượng là do chuyên cần, bị đổ nát là do lười biếng; vì thế mà các nhà nuôi dạy con, con trai lúc nhỏ phải học làm những việc cày cấy khó nhọc, dần chúng lớn lên thì phải bảo cho biết học việc trị binh; rất kiêng kị sự nhàn rỗi, không nghề nghiệp”.
“Nhàn cư vi bất thiện” câu nói đó không phải chỉ có nhà nho nói mà nhân dân ai cũng nói.
Nếu quả nhàn cư vi bất thiện, thì tự nhiên cần cù siêng năng có ý nghĩa đạo đức, sinh ra điều thiện cho xã hội, cho gia đình cho chính mình.
Một bậc được xem là thánh hiền thời Chiến quốc, ông Mặc tử, cho rằng sự cần cù, siêng năng, cố gắng mang một ý nghĩa triết học: tầm quan trọng tư tưởng của nó ở chỗ là nó chống lại tư tưởng số mệnh. Số mệnh, định mệnh, thiên mệnh, mệnh, nói chung là trái với cần cù, siêng năng, cố gắng, nổ lực. Mặc tử nói: “ Nay các bậc vua quan vào chầu sớm, ra về muộn, tự mình xét các vụ kiện cáo, làm việc chính sự thì suốt buổi phải lo lắng làm sao cho xong xuôi mà không dám lười biếng mệt mỏi. Sao vậy? – Vì họ cho rằng gắng sức mình thì sẽ binh trị, không gắng sức mình sẽ loạn lạc; gắng sức thì sẽ an ninh, không gắng sức thì sẽ nguy ngập; cho nên không dám lười biếng mệt mỏi. Nay các nông phu sở dĩ đi sớm về tối, cố gắng cày cấy trồng trọt để thu cho được nhiều lúa, không dám lười biếng mệt mỏi. Sao vậy? – Vì họ cho rằng cố gắng thì sẽ giàu, không cố gắng thì sẽ nghèo; cố gắng thì sẽ no, không cố gắng thì sẽ đói; cho nên họ không dám lười biếng mệt mỏi. Nếu vua chúa không cố gắng mà chỉ dựa vào số mạng thì họ sẽ lười biếng trong việc cai trị, trong chính sự; các bậc quan tất sẽ lười biếng trong các việc phủ đường; nông dân tất sẽ lười biếng trong việc cày cấy trồng trọt; đàn bà sẽ lười biếng trong việc ươm tơ, dệt vải. Do lười biếng mà ăn mặc đều thiếu”.
Sự cần cù, cố gắng làm việc hết sức mình, đã được các bậc trí giả tán dương như vậy, được các bậc hiền triết nâng cao lên mức tư tưởng triết học như vậy. Bản thân sự cần cù là đối lập với thuyết thiên mệnh; vô hình trung nó bài bác sự tín ngưỡng mê muội vào số phận trời định sẵn. Cho dù không hiếm những người vừa cần cù cố gắng vừa tin ở số phận, mệnh trời, bản thân sự cần cù cố gắng đã thực tế là một sự khẳng định lòng tin hay khẳng định hy vọng ở sức người rồi vậy.
“Cần” được ai nấy đều tán dương nhưng cũng có ngoại lệ. Một số người chủ nô, quý tộc thời cổ đại và trung đại, xem cần lao là dấu hiệu của sa đoạ, của thấp hèn: phải ăn không ngồi rồi, săn bắn, đi yến tiệc mới là dấu hiệu của sang trọng; nếu không được chút văn chương thì cũng thạo cỡi ngựa múa kiếm mới đúng là quý tộc. Chẳng những không biết làm thợ, cày ruộng, bọn quý tộc phong kiến cũng khinh thường ngay cả nghề buôn bán, xem đó là nghề hạ tiện. Đến khi quý tộc phong kiến nghèo xuống, phải hạ mình đến vay nợ của con buôn, hoặc xin thu lúa những năm chưa tới của tá điền, thì họ mới bắt đầu nhận thấy rằng “kị nhất là nhàn rỗi và không nghề nghiệp”.
Nho giáo tách hai lao tâm và lao lực; nó cho rằng quân tử thì lao tâm, tiểu nhân thì lao lực, người lao tâm trị người lao lực. Cũng là một quan điểm khinh thị lao lực, chỉ quý trọng lao tâm. Nói theo tiếng nói ngày nay, đó là xem trọng trí thức, xem thường lao động tay chân. Có lẽ để đối chọi với quan điểm này, từ lâu lắm rồi người dân Việt thường nói chế diễu: Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ! Nho giáo trọng quân tử, cho rằng lao tâm mới xứng đáng người quân tử. Có khác gì với phong kiến quý tộc tây phương khi họ nói: lao lực là dấu hiệu của sự sa đoạ, nhà quý tộc không làm việc tay chân. Thánh nhân như Khổng tử nghĩ gì khi Phan Tri hỏi ngài về trồng trọt, ngài không trả lời và chê Phan Tri sao lại tìm học những điều hạ tiện? Có lẽ ngài cũng cốt đề cao lao tâm mà thôi, chỉ đề cao cần học, cần chính mà thôi. Đó là cái tệ chung trong những chế độ người bóc lột người, trong những giai cấp giàu có sống nhờ bóc lột người khác, ở đó cho dù họ khuyến khích cần lao, họ vẫn khinh thường lao động. Ở đó, vì làm lụng quá nhọc mà sinh sống lại cứ thiếu thốn cho nên ngay trong các tầng lớp nhân dân lao động cũng nảy sinh ra cái tư tưởng muốn thoát li lao động tay chân, nếu không phải cho mình thì cho con cháu mình về sau. Ý nguyện khá phổ biến, nhưng thường nhất người ta thấy đông đảo bọn trung lưu bị phá sản rơi xuống tầng lớp lao động tay chân nghèo nàn, chớ người lao động tay chân nghèo nàn mà trở nên giàu có thì tuy không phải không ai, nhưng phỏng được mấy người? Đó là quy luật chung của sự bần cùng hoá, nhất là ở dưới chế độ tư bản thực dân. Phải đến cách mạng thành công, phải đến chế độ xã hội chủ nghĩa thì toàn dân mới nhận ra đầy đủ rằng lao động là vinh quang, lao động tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Khi đó mọi người mới say sưa lao động, mới lao động quên mình, bởi vì không còn bị ai bóc lột nữa. Nói một cách khác, dưới chế độ xã hội người bóc lột người, nhìn chung, cần cù lao động là một sự bắt buộc của dạ dày, là một điều gian khổ, lắm lúc nhục nhằn, muốn thoát ra mà thoát không được; trái lại, vào chủ nghĩa xã hội thì cần cù lao động là một nghĩa vụ cao cả, một nguồn vui thú, một nhu cầu của tính người, khi đó người ta lấy lao động sáng tạo làm một sự vinh hiển, người ta xem việc ăn bám, ăn không ngồi rồi trong tuổi lao động là buồn tẻ, nhục nhã nữa là khác.
Như thế, một chữ “cần” mà được hiểu khác nhau, được giá không giống nhau tuỳ xã hội, tuỳ hạng người. Cách hiểu sâu nhất, cách đánh giá đúng nhất là cách mác xít, xem “cần” là điều kiện, nguồn gốc làm xuất hiện loài người, là sức sáng tạo của cải vật chất và tinh thần cho nhân loại, nó là một động lực đẩy xã hội tiến lên, vì vậy mà đáng tôn quý đặc biệt.
2. Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc cần cù
Nói chung, nhân dân nước nào cũng cần cù. Tất nhiên là ở nhiều mức độ, tuỳ phong tục tập quán, tuỳ thiên nhiên, tuỳ sự phát triển của kỹ thuật.

Mùa gặt ngoại thành. Ảnh: tư liệu
Nhưng không ai chối cãi rằng nhân dân Việt Nam rất cần cù. Có người quan sát từ nước ngoài đến nước ta, chú ý rằng mọi cơ năng của con người Việt Nam đều được dùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh nhẹn và khéo léo, chân chạy như bay…Cái đó có thật, nói lên được tính cần cù lao động của người Việt Nam nói chung. Người quan sát nước ngoài cũng thấy hàng ngàn cây số, các đê cộng lại dài như vạn lý trường thành; vạn lý trường thành một thủa làm xong hẳn, đê điều làm mãi hàng chục thế kỷ, mỗi năm mỗi đắp, tốn hàng chục triệu nhân công, Người quan sát nước ngoài lại thấy ruộng nước như bàn cờ, cấy hái công phu kỹ lưỡng như làm vườn: mưa dầm, nắng cháy, giá lạnh lúc nào cũng thấy đầu đội trời, chân trong nước ở đồng ruộng. Cả đêm tối đập lúa ngoài sân, giã gạo trong nhà khung cửi lách tách, vừa làm vừa hát. Từ thiên cổ, người Việt Nam can đảm vật lộn với điều kiện thiên nhiên để tạo thành và duy trì một nơi sinh tụ có thể sống được.
Bằng ca dao tục ngữ, quần chúng nhân dân nước ta xưa nay luôn ca tụng đức cần:
“ Chịu khó mới có ăn”
“ Khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn”
“ Tha cày cuốc gốc, nghĩ nhọc chăn trâu”
“ Buông dầm cầm sào”
“ Mặt trời sắp hé rạng đông.
Anh ơi thức dậy ra đồng kẻo trưa,
Cơm ăn bao quản muối dưa,
Việc làm bao quản nắng mưa dãi dầu”.
Khi nhân dân bảo nhau, khi già bảo trẻ: “Người sống đống vàng”, “tấc đất tấc vàng”, ấy đều là đề cao đức tính cần cù lao động sản xuất.
3. Tạo thành nơi sinh tụ của giống nòi là bởi đức tính cần cù
Lưu vực sông Hồng từ cổ đại xa xăm đã có dấu vết người nguyên thuỷ. Chắc là thuở xa xưa ấy đã có những chủng tộc khác nhau cùng sống trên vùng đất này, hoặc gốc gác là chính ở đây hoặc từ nhiều nơi lần lượt đến. Một số nhà khảo cổ nhận thấy rằng có một sự kết nối liên tục trong văn minh tối cổ ở vùng đất này từ đồ đá cũ, đồ đá giữa, đồ đá mới, từ đồ đá mới đến đồ đồng thau chứng tỏ sự liên tục của một tập đoàn người hình thành, củng cố và phát triển từ hết sức lâu đời chứ không phải là đã diễn ra sự biến động đổi thay lớn tựa như cuộc biến động tạo ra bởi việc Aryen tràn vào lục địa Ấn Độ, đẩy người Đravidien xuống phía nam lục địa ấy. Rất xa lạ với chúng ta cái lý thuyết nói rằng có những nòi giống xưa nay không pha trộn giòng máu, có những giòng máu cao thượng trời sinh đã mang trong mình cái sứ mạng làm chúa tể các giống nòi thấp hèn. Địa cầu từ hàng triệu năm rồi đã là một môi trường pha trộn không biết bao nhiêu là giòng máu khác nhau, điều đó không trái ngược lại với sự hình thành những nòi giống có đặc sắc riêng. Sở dĩ nói sự liên tục của lịch sử văn hoá lưu vực sông Hồng, sông Mã là để nói rằng nhân dân Lạc Việt đã thành một cộng đồng rộng lớn từ rất lâu và từ rất lâu đã cùng nhau tự mình cần cù lao động xây dựng nơi sinh tụ của giống nòi Lạc Việt, chớ không phải thừa hưởng của một cộng đồng nào khác, công xây dựng càng nhiều, mồ hôi đổ xuống đất càng lắm, thì mình càng gắn bó với quê hương.
Chắc chắn là để làm được việc xây dựng đó, các bậc tổ tiên đã phải đấu tranh hết sức vất vả và đấu tranh thắng lợi với thiên nhiên khắc nghiệt trên vùng đất trù phú này, thì mới có thần thoại Lạc Long Quân diệt Ngư tỉnh, diệt Hồ tinh, đánh bại Mộc tinh; ấy là sức cần cù lao động và can đảm chiến đấu của nhân dân cổ đại ở các vùng biển, đồng bằng, trung du, đã chinh phục được những trở ngại của đất trời và của kẻ địch bất kì từ đâu tới, xây dựng được cuộc sống yên lành.
Và chắc chắn là ngay từ khi ta chưa có đề điều, từ lâu trước thời trung cổ phong kiến, tổ tiên của chúng ta đã có một số những biện pháp cụ thể và hữu hiệu để chống với lũ lụt hàng năm thì ta mới có thần thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh. Ít ra thần thoại ấy cũng nói lên được một kỳ vọng thiết tha là sẽ có ngày ta sẽ bảo vệ được mùa màng, nhà cửa, trâu bò, con người khỏi bị lũ lụt cuốn đi.
Ngay cả truyện Thần Kim Quy giúp An Dương Vương vững xây thành Cổ Loa cũng có ý nghĩa “cần”, đó là truyện ngợi ca đức tính cần cù, lao động có kĩ thuật, có sáng tạo, biết vượt qua những trở ngại của cát lún, đất bùn, ao đầm và bao nhiêu khó khăn khác nữa, để lập xong kinh thành của nước Âu Lạc.
Thiết tưởng truyện cổ tích “bánh chưng bánh dày” không phải chỉ chủ yếu là truyện trung hiếu, càng không phải là truyện triết lý trời tròn đất vuông như người đời sau giải thích, mà trước hết là truyện ca ngợi lao động sáng tạo của người dân biết từ vật liệu có sẵn trong tay, sẵn có trong làng xóm, chế biến ra những món ăn mới ngon lành, đặc sắc mà không cầu kì, ai cũng làm được, lựa chi là con vua, ai cũng ăn được, lựa chi là vua.
Truyện Mai An Tiêm chủ yếu cũng là truyện ngợi ca những người trong tay có một số nghề thông thạo: xây nhà, đóng thuyền, đan buồm, trồng trọt, v.v…những người lành nghề như vậy thì dù ở trong hoàn cảnh nào cũng sống được, không ai dèm pha nổi, không ai đè bẹp nổi.
Còn bao nhiêu truyện cổ tích khác nữa cũng mang một nội dung tư tưởng như thế. Người Văn Lang vốn cần cù nên ca ngợi cần cù, ca ngợi bằng thần thoại, bằng cổ tích.
Con cháu của người Văn Lang cũng cần cù rất mực, cho nên, mấy nghìn năm đã trôi qua mà những truyện truyền miệng đó vẫn còn được bảo tồn và được nghe kể lại một cách say sưa.
Nhờ cần cù lao động mà tổ tiên chúng ta đã xây dựng được một cái nôi dân tộc, tạo thành một nơi sinh tụ của giống nòi, đó là dải non sông gấm vóc trải từ các lưu vực sông Hồng Hà, Thái Bình dến các lưu vực sông Mã, sông Lam. Trên quê hương đó, các bộ lạc vì nương tựa nhau trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh với thiên nhiên và với kẻ địch từ ngoài vào, nên đã đoàn kết một cách tự nguyện thành nước cổ đại Văn Lang. Đồng ruộng mở rộng ra mãi, thuyền chài thêm nhiều, dân tộc sinh nở càng đông. Cho nên, lấn biển, lấn rừng, lấn ao đầm bãi bồi bằng lao động cần cù của mình, người Văn Lang tô điểm cho mình một nước non nhà. Có người thì đất mới linh. Non sông là gấm vóc, ấy không phải bởi tự nhiên, mà trước hết nhờ tay lao động của con người cày cấy, xây nhà, đánh cá, săn thú làm thủ công, vượt biển, đúc trống đồng. Vó ngựa có thể mỗi ngày đi trăm dặm nhưng làm sao để lại một cơ đồ bằng đôi trâu với lưỡi cày. Vó ngựa, nếu may, có thể đem lại những chiến lợi phẩm nhất thời. Lưỡi cày chậm chạp mà cho phép con người gắn liền sâu sắc với đất đai. Người, đất, cần cù là lịch sử đấu tranh là gốc của nước. Văn Lang, cái nôi của dân tộc, chỗ sinh tụ của giống nòi, là kết quả lớn của sức lao động cần cù của bao thế hệ tổ tiên chúng ta.
4. Đất tổ mà còn, phần rất quan trọng cũng là nhờ đức tính cần cù ấy
Trong lúc người cổ đại an cư lạc nghiệp trên nước Văn Lang thì Hán tộc tràn từ lưu vực sông Hoàng Hà xuống Trường Giang, vào lưu vực Châu Giang, lần đến lưu vực sông Hồng Hà. Đó là chưa kể sự bành trướng của họ về các hướng khác. Sau khi nước Tần gồm thu lục quốc của trung nguyên thì đến Hán, Đường bao trùm cả một thiên hạ rất lớn, trong khi đó có quê cha đất tổ của chúng ta; quê cha đất tổ của chúng ta biến thành Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam đô hộ phủ. Đứng ở thời điểm vài nghìn năm sau mà nhìn lại, rất đỗi kinh hoàng khi thấy rằng ngoại trừ dân tộc trước kia trong “thiên hạ” của Hán, Đường, nay còn được ngâm câu “ta lại là ta”, còn thì tất cả đều mất đứt chủ quyền, mất luôn cả bản sắc và tư cách dân tộc trở thành nội thuộc của Tống, Minh, Nguyên, Thanh. Còn ta thì, sau hơn một nghìn năm nội thuộc Hán, Đường, dân tộc Việt Nam hãy còn và có đủ sức mạnh giành lại độc lập, giữ được độc lập lâu dài. Khỏi phải nói đó là một vinh dự, một tự hào.
Vì sao được như vậy?
Chắc không phải có một lí do.
- Phải chăng vị trí địa dư xứ ta ở xa trung tâm đất Hán, Đường? – Đúng là xa. Nhưng từ trung tâm Hán, Đường đến xứ ta, các đường thuỷ bộ đều tiện lợi. Hơn nữa phong thổ xứ ta dễ chịu, đất đai xứ ta màu mỡ, người Hán dễ sinh sống như ở xứ họ. Nhiều xứ còn xa hơn, đường đến còn trở ngại hơn, phong thổ lam chướng, đất đai cát sỏi, vậy mà đã bị Hán hoá từ lâu rồi!
- Phải chăng nhờ may mắn gặp lúc mạt Đường, chính quyền trung ương lỏng lẻo, địa phương tha hồ cát cứ, ta nắm thời cơ vùng lên thắng lợi như một trái đã chín mùi? – Đúng như vậy, gần như vậy, nhưng cái may mắn đó đâu phải dành riêng cho ta mà chung cho tất cả các dân tộc bị Hán, Đường đô hộ. Trên thực tế, thuở ấy không phải chỉ có một mình nước ta giành lại được tự chủ, còn nhiều nước khác, nhưng chỉ một số nước bảo vệ tự chủ lâu dài.
- Hẳn là vì tinh thần chiến đấu giải phóng dân tộc, vì thắng lợi trong cuộc đấu tranh lâu dài, thầm lặng mà gian nan để chống nạn Hán hoá cực kì nguy hiểm.
Chính sách đồng hoá của bọn thống trị Hán, Đường là một chính sách nham hiểm bậc nhất được họ thi hành một cách có hệ thống. Đồng hoá bằng văn hoá: phong tục, tập quán, học thuật, triết lí, đồng hoá bằng sự di dân liên tục, di dân từng đợt lớn hoặc bằng cách khuyên quan quân ở lại sau khi mãn hạn đi thú. Khốn nỗi! Người Hán làm được tất cả những việc ta làm, họ cần cù như ta, sống được những điều kiện ta sống; họ cũng sinh đẻ nhiều như ta; họ lại có quyền hơn ta. Trong tình trạng đó, trước mắt ông bà ta thời bắc thộc có hai con đường mở rộng dễ dàng: hoặc cứ để Hán hoá từ từ, đến mức người mình trở thành người họ, còn nước ta vĩnh viễn trở thành quận huyện của họ, hoặc miốn bảo tồn tính dân tộc – ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đạo lý,v.v…thì phải lần lượt kéo nhau xuống phương nam, tây nam, tìm cách lập nghiệp ở những thung lũng nhỏ, ở những đồng bằng hẹp, trong núi non ở đó ít người, nhưng cũng ít điều kiện để lập quốc. Tổ tiên ông bà chúng ta không chịu theo hai con đường bị động, buông xuôi đó mà chọn con đường đấu tranh, khó khăn hơn nhưng danh dự hơn, ấy là con đường bám lấy quê hương bảo vệ dân tộc, giành lại nước nhà. Các cụ đã thành công.
Sự thật lịch sử vẻ vang đó liên quan gì đến đức tính cần cù mà chúng ta đang nghiên cứu không? – Có chứ!
Người Văn Lang ở trên nước mình hàng mấy ngàn năm, trước khi bị đô hộ. Đời này sang đời khác, họ đã chịu đổ mồ hôi và rơi giọt máu để khai phá, cày cấy, bảo vệ những ruộng vườn nhà. Trên đất quê hương đã an nghỉ biết bao thế hệ ông cha của họ. Cuộc sống định cư lâu dài mấy ngàn năm và rất mực cần cù như đã làm cho con người cắm rễ sâu trong lòng đất, còn sâu hơn những rễ cây cổ thụ già nhất, bởi vậy cho nên những cây cổ thụ già nhất. Bởỉ vậy cho nên người Vịêt suốt thời kì bắc thuộc, ra sức bám lấy quê hương yêu quý và thiêng liêng của mình không chịu để bị xua đuổi đi bất cứ nơi nào. Công lao của các thế hệ xây dựng cái nôi chung của dân tộc lớn bao nhiêu thì, thời gian các thế hệ sống trên đất nước dài bấy nhiêu thì lòng yêu quê hương đất nước này lâu dài bấy nhiêu, thì lòng yêu nước đậm đà bấy nhiêu, Yêu nước là quyết tâm trụ lại trong nước dù nước mất nhà tan, người bị làm trâu ngựa: còn người, còn đất thì còn ngày tự chủ, độc lập. Người Việt không bỏ đi, mà cứ bám trụ, thì người Hán không thay được và không biết đâm rễ vào đâu. Đi vào làng mạc của người Việt thì như muối bỏ vào ao, không phải người Hán có thể hoá người Việt thành người Hán, mà qua nhiều đời, người Hán lại bị hoá thành người Việt. Vả lại, người Việt bám đất bám làng, xem đồng ruộng là nồi cơm, là mồ hôi nước mắt, là máu đào của nhiều thế hệ ông cha và của chính mình, thì tự nhiên có tinh thần đề kháng, có tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm, dành lại tự chủ. Muốn có tinh thần chiến đấu để dành lại tự chủ thì trước tiên phải lo bảo tồn cho được một số những đặc tính dân tộc của mình, chớ nếu để tiêu tan mất, hay là phai mờ đi các đặc tính dân tộc ấy, thì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ hoàn toàn không có ý nghĩa nữa. Thuở ấy, các cộng đồng thôn xã là tế bào của dân tộc, còn hơn là gia đình, họ hàng; cộng đồng thôn xã là nơi các đặc tính dân tộc được bảo tồn vững chắc nhất. Cộng đồng thôn xã như là một cơ thể mà mỗi người dân không thể tách rời, dìu dắt nhau, tâm sự nhau, đùm bọc nhau, nhất là trong cảnh bị nước ngoài đô hộ. Nói cộng đồng cũng là nói cần cù lao động của mỗi nhà vì cuộc sống chung của thôn xã, ở đó, có sức sống riêng của nhà mình và mình. Ra khỏi phủ đường, huyện đường, thì áp lực Hán càng đi xa càng yếu, đến chân các luỹ tre thiên cổ thì tan tác.
Nói tóm lại, có bám đất, bám làng, mới giữ được dân tộc tính. Giữ được dân tộc tính mới có phong trào giải phóng dân tộc. Mà bám đất bám làng là gì? Chính là tiếp tục cần cù lao động trên mảnh đất tổ tiên đã khai phá, ông cha đã sinh sống, lâu nay ta cấy cày “một tấc không đi một ly không rời”, cái can trường ấy không phải đợi đến sau này mới có.
Như vậy, nếu một chữ cần đã tạo thành nơi sinh tụ của dân tộc thì chữ cần ấy cũng là cái gốc để duy trì chiếc nôi chung trước áp lực to lớn, lâu dài, liên tục của một đối phương áp đảo, có quyền thế, và đầy sức bành trướng.
5. Các triều đại độc lập thịnh trị đều lấy chữ “cấn” làm một phương châm của chỉ đạo
Theo tư tưởng phương Đông chữ “cần” không phải chỉ là bổn phận và đức tính riêng của người lam lũ hay của con người nói chung. Theo Kinh Dịch thì “cần” trước hết là đức lớn của trời đất. Trời chuyển vận luôn luôn, không bao giờ ngừng; trời vốn mang đức lớn “hiếu sinh”, sinh ra vạn vật, vạn vật sinh nở luôn; cần của trời đất là thế. Trong sách “cần kiệm vựng biên” của Nguyễn Đức Đạt chiếu theo Kinh Dịch mà viết: “trời còn cần nữa thay, huống là người”.
Trị đạo phương Đông theo nhiều phương châm. Một trong những phương châm là “cần chính”. Phương châm cần chính của trị đạo đòi hỏi vua và quan phải vào chầu sớm phải, bãi chầu muộn, phải trực tiếp giải quyết nhanh chóng mọi việc công, không để bê trễ, án tiết không được kéo dài mà không xử đoán mọi điều kêu ca của nhân dân phải được xem xét và phúc đáp, mau lẹ không để oán hờn chất chứa, oán hờn mà chất chứa thì trời xúc cảm và tai dị phát sinh để trừng phạt hoặc nhắc nhở! Ít ra là trong lý thuyết phương châm “cần chính” của trị đạo Nho giáo là như thế ấy. Các ông vua sáng nghiệp nhất là các vị nào nhờ khởi nghĩa của nhân dân mà được thiên hạ thì trong lúc đầu thường chú ý đến cần kiệm và cần chính. Một tờ chiếu của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) - Tờ chiếu này do Nguyễn Trãi soạn – Có đoạn răn các quan đừng hoang phí sức dân, đừng xa hoa: “xây cung thất đẹp, dựng lâu đài cao, thì gây nên thói tục xa hoa. Theo ý mình mà ức lòng người thì trăm họ oán giận. Trẫm rất thẹn thùng về điều đó, thường nghĩ rằng những cái gì quy mô lớn lao lộng lẫy đều là (tốn phí) sức lao khổ của dân. Cứ ở yên như cũ còn không kham thay, vậy mà văn võ thần liêu định làm đủ những lễ nghi đăng điện, yến hạ, thật là không hợp ý trẫm”.
Bài chiếu đã nhắc nhở dức cần kiệm, lại nhắc nhở đức cần chính: “Nay, tức các đại thần tổng quản cho đến đội trưởng cùng các quan ở viện, sảnh, cục, phàm người có chức vũ coi quân, trị dân, đều phải theo phép công bằng, làm việc cần mẫn, thờ vua thì hết trung, đối dân thì hết hoà, bỏ thói tham ô, trừ tệ lười biếng. Bè đảng riêng tây phải chấm dứt, thái độ cố phạm phải chừa, coi công việc quốc gia là việc của mình, lấy điều lo của sinh dân mà làm điều lo cho thiết kỷ”.
Thay vua để làm bài “Răn thái tử”, Nguyễn Trãi viết “Nếu con xa người trung trực, gần bọn xiểm nịnh, chỉ làm điều mình thích thú, chỉ chuộng trò ngoạn mục, chẳng theo đức cần kiệm, chẳng nghĩ công gian nan, thì như cổ nhân đã nói: Cha đã sắp đặt làm nhà mà con chẳng chịu đắp nền dựng cột, cha đã siêng chăm cày ruộng mà con chẳng chịu gieo giống gặt mùa. Sao cho thành chí ta? Sao nối được nghiệp ta mà roi truyền mãi mãi. Vả lại, mến người có nhân là dân, mà chở thuyền hay lật thuyền cũng là dân; giúp người có đức là trời, mà khó tin và không thường cũng là trời. Tuy Thuấn Vũ Thang Văn là bậc thánh mà còn nau náu, nơm nớp, tiết kiệm, siêng năng, run sợ, lo âu, giữ gìn, cung cần”.
Thời thịnh Lê chú trọng đến cần kiệm, cần chính, quý trọng sức lao khổ của dân, ít ra về lí thuyết là như vậy.
Cũng theo lí thuyết “cần chính” đó, khi đã lấy chữ “cần” làm một phương châm chỉ đạo, thì nhà cầm quyền bị buộc phải đặt ra cho mình cái nhiệm vụ làm cho muôn dân đều có công ăn việc làm, cho mỗi nhà nông dân có một khoảnh đất để cấy cày; già nua, goá bụa, côi cút đều có phần công điền, công thổ; dân lưu tán phải được đưa về nơi quê quán để trồng trọt, canh cửi; làng nào để quá nhiều dân lưu tán, đất bỏ hoang hoá thì hương chức bị phạt; người dân không đất không đất cày trên quê hương mình đi dinh điền, cường hào bị chặn lại khi chúng nó bị chấp chiếm nhiều ruộng công tư; nhà nước có thể lấy lại một phần đất chấp chiếm đó để làm công điền,v.v…Đời độc lập thạnh trị nào cũng chủ trương như thê: Lý Sơ, Lê Sơ, Tây Sơn. Nhưng các lúc thạnh trị thì ngắn ngủi thôi. Nhà nước phong kíến là nhà nước của chủ điền trước hết, thì ở làng xã tất cả quyền hành ở trong tay của cường hào, cường hào là chỗ dựa của quan trên để trưng binh, thu thuế, bắt phu thì chuyện chống cường hào của triều đình chỉ là chuyện nói hão. Cho nên không lấy gì làm lạ sau mấy đời thạnh trị hoặc một đời hay nửa đời thôi, nông dân lại xục rục nổi lên ở nơi này hay nơi khác, càng ngày càng nhiều, càng mạnh, cho đến khi triều đại cũ sụp đổ, dựng lên triều đại mới và cứ như thế.
6. “Vừa cày ruộng vừa đánh giặc”, một chiến lược cổ truyền Việt Nam, mà giá trị hãy còn trong kháng chiến hiện đại
Nói “vừa cày ruộng vừa đánh giặc” thường thường là nói chủ trương nổi tiếng của Lê Lợi. Nhưng không phải chỉ có Lê Lợi có chủ trương “vừa cày ruộng, vừa đánh giặc”; các nhà lãnh đạo khởi nghĩa nhân dân, phàm ai vận động kháng chiến lâu dài, nổi dậy liên tục, đều làm như vậy hết. Hễ phải chiến đấu với một kẻ địch lớn mạnh hơn mình thì phải cầm chắc rằng cuộc chiến đấu là lâu dài, tức không thể không “vừa cày ruộng, vừa đánh giặc”, một cuộc chiến đấu trong đó tính dũng cảm xung trận và đức cần cù lao động đều được đánh giá cao.
Nội dung của chủ trương chiến lược vừa cày ruộng vừa đánh giặc có hai phần, cả hai đều liên hệ mật thiết với nhau. Thứ nhất, quân khởi nghĩa dành một số nhân lực, một số thời giờ để tự mình sản xuất lương thực và nhiều nhu yếu phẩm khác cho mình, vừa đỡ gánh nặng cho nhân dân, vừa giữ tính chủ động ở nhiều mặt, vả lại cuốc cày cũng là tập luyện thể lực, không để người nhàn rỗi giữa hai đợt hoặc hai mùa chiến đấu, nhàn rỗi quá chỉ có hại cho tinh thần chiến sỹ. Thứ nhì là bản thân người nông dân, người chủ công ở xóm làng đang cần cù lao động sản xuất, đều phải là những người sẵn sàng cầm vũ khí chống giặc khi giặc đến cướp phá hay đóng đồn; giặc bị đuổi ra khỏi làng thì người dân lại cày cuốc, canh cưởi như thường ngày, tích trữ lương thực, vải sồ cho quân khởi nghĩa. Nguyễn Huệ vừa chiêu binh vừa sản xuất ở vùng An Khê, tỉnh Bình Định. Hoàng Hoa Thám hùng cứ một vùng Bắc Giang, vừa hội quân vừa mở đồn điền làm kế lâu dài nhằm đối đầu với chính sách bao vây của thực dân Pháp.
Đến hiện đại, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đường lối cách mạng là đồng thời thi đua lao động sản xuất và thi đua giết giặc lập công, vừa có bầu anh hùng lao động vừa có bầu anh hùng quân đội. Cả hai loại anh hùng đều được đề cao. Thi đua nghĩa là lao động và chiến đấu khẩn trương nhất, sao cho có năng suất cao, hiệu nghiệm nhiều. Hồ Chủ tịch dạy:
“Ngành ngành thi đua,
Người người thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”.
Hồ Chủ tịch nói với nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp:
“Ruộng đất là chiến trường,
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ,
Hậu phương thi đua với tiền phương”
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chủ tịch hô hào: “Mỗi người làm việc bằng hai”, lúc nào Hồ Chủ tịch cũng nhắc nhở: “Thực túc binh cường”.
Pháp và Mỹ đều thi hành chính sách phong toả nghiêm ngặt vùng giải phóng. Chẳng những phong toả, chúng còn dùng máy bay ném bom rải chất độc hoá học để phá hoại mùa màng, vườn tược, cốt lấy cái đói mà khuất phục quân ta. Chúng “xúc” dân vùng du kích đưa vào vùng tạm chiến. Chúng ngày đêm bắn phá vào vùng tự do, để nông dân không thể cày cấy được, nhằm buộc dân phải rời bỏ xóm làng đến ở gần đồn bốt của chúng, chung quy là chúng không cho dân ta sản xuất để cung cấp cho kháng chiến. Trong tình hình đó chính quyền cách mạng và nhân dân phải ra sức bám đất, bám làng để mà sản xuất, dù phải cày cấy gặt hái ban đêm, dù phải ăn ngủ dưới hầm sâu, dù phải đội bom đạn năm bảy năm hay lâu hơn nữa.
Quả rằng, nhân dân các nước đều cần cù nhưng cần cù đến mức tột bậc như nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ thì thật không phải nơi nào cũng có.
Cuộc thi đua lao động sản xuất đã tạo ra nhiều người anh hùng cũng tương tự như cuộc thi đua giết giặc lập công. Đó là chất mới trong tính cần cù trong truyền thống “vừa đánh giặc, vừa cày ruộng”.
7. Anh hùng lao động
Người Việt Nam ngày trước cần cù lao động là lao động cá thể và cho riêng mình trước hết; đèn nhà ai nấy sáng, việc nhà ai nấy lo. Tất nhiên, ngày trước cũng có những công trình có tính chất công cộng, tính chất quốc gia, chung cho làng xóm, chung cho dân tộc như làm lộ, đắp đê, đào kênh, nắn sông, v.v… nhưng nhìn đại thể thì những công trình công cộng phục vụ cho lợi ích phong kiến hoặc tính lợi ích công công là kết quả khách quan ngoài ý thức của người dân lao động. Tuy nhiên, mỗi nhà gạo đầy lu, thóc đầy bộ thì cũng được coi là một cách hay để chất chứa của cải cho xã hội. Hiểu như vậy thì cần cù lao động sản xuất cho cá nhân cũng là một cách để làm giàu cho xã hội. Tuy vậy, dù ở xã hội cũ có những người lao động sản xuất sắc chẳng ai tuyên dương họ là anh hùng bao giờ. Nhiều lắm thì nhà vua ban cho một bằng khen rồi chon vào làm việc cho nhà vua nếu là thợ thủ công thật giỏi.
Từ ngày cách mạng tháng Tám thành công, đời bắt đầu thay đổi ở cơ bản. Chính quyền về tay nhân dân, chủ yếu là nhân dân lao động bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay. Ta kháng chiến thì càng phải lo sản xuất “thực túc binh cường”. Hậu phương sản xuất, tiền tuyến giết giặc; hậu phương và tiền tuyến thi đua. Quân ta càng đông thì sản xuất lương thực, sản xuất vũ khí càng tăng, không tăng ở sản xuất thì đừng mong tăng ở quân số. Vì vậy mà có thi đua lao động sản xuất đồng thời với thi đua giết giặc lập công; cuộc thi đua ấy là thi đua yêu nước, khác hẳn với cạnh tranh và thi đua làm giàu có. Cuộc thi đua yêu nước làm nảy sinh nhiều anh hùng lao động được nhân dân tuyển lựa theo tiêu chuẩn cao; và được Nhà nước công nhận, biểu dương. Đến lúc nhân dân ta phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để làm hậu phương lớn vững chắc cho tiền tuyến miền Nam thì ý thức của nhân dân ta trong việc cần cù lao động tất nhiên lên cao hơn trước, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa là giải phóng dân tộc, vừa là giải phóng nhân dân lao động nhằm thực hiện một lý tưởng cao quý nhất đời, cho nên do đó tinh thần lao động được phát huy và do đó chủ nghiã anh hùng trong lao động làm nảy sinh rất đông đảo anh hùng và chiến sĩ thi đua trong công nhân, nông dân tập thể, lao động trí óc và nhà khoa học. Không lúc nào mà sự cần cù lao động không được tuyên dương được tôn trọng như bây giờ. Tại đại hội anh hùng lần thứ hai họp vào tháng 7 năm 1958, Hồ Chủ tịch đề cao tính chất vì dân, tính chất tập thể và xã hội chủ nghĩa của các chiến sĩ thi đua. Cụ nói: “Anh hùng chiến sĩ thi đua là những người tiền phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu trong đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chớ không phải nửa tâm nửa ý. Họ không sợ khó nhọc ra sức vượt khó khăn hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ chớ không suy bì hơn thiệt cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những anh em xung quanh mình, họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Họ không tự kiêu tự mãn, tự tư, tự lợi. Đó là những đức tính cách mạng mạng chúng ta cần học tập các anh hùng chiến sĩ thi đua”.
Tại đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc (1960) Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh vào nhiệt tình xã hội chủ nghĩa, ý thức cải tiến kỹ thuật tức là phát huy trí óc sáng tạo trong sự lao động cần cù, ý thức đoàn kết với mọi người cùng làm xem đó là những nét nổi bật của cuộc thi đua lao động ngày nay: “Đảng và Chính phủ khen ngợi các đồng chí vì việc làm của các đồng chí có nhiều điều đáng nêu. Thứ nhất là: Việc làm của các đồng chí là thi đua, các đồng chí đã biểu lộ nhiệt tình xã hội chủ nghĩa, lao động quên mình, phấn đấu vượt khó khăn để hoàn thành và hoàn thành thắng lợi kế hoạch của nhà nước. Thứ nhì là: trong lúc thi đua, các đồng chí đã cố gắng cải tiến kỹ thuật, cải tiến nghiệp vụ, cải tiến tổ chức lao động nhằm tăng năng suất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, hạ giá thành thực hiện làm nhiều nhanh, tốt rẻ, đồng thời bảo đảm an toàn lao động. Trong thi đua cải tiến kĩ thuật là chủ yếu. Thứ ba là: trong lúc thi đua hầu hết các đồng chí đã biết đoàn kết những người làm việc với mình, giúp đỡ nhau cùng phải cải tiến kĩ thuật nghiệp vụ và đạt năng suất cao”.
Nói đức tính của người anh hùng lao động và của chiến sĩ thi đua lao động, cũng là nói đến tiêu chuẩn được căn cứ để chọn anh hùng và chiến sĩ thi đua, mà cũng nói đến mẫu mực mà tất cả mọi người lao động tay chân và trí óc đều phải theo và có thể theo được. Tiêu chuẩn thi đua thì cao và đa diện; tuy vậy có nhiều người đạt. Đó là bằng chứng con người Việt Nam đã lớn lên rất nhiều trong sự nhận thức các giá trị đạo đức tinh thần. Các đức tính mới đã nâng cao khái niệm nội dung cần cù trước đây lên một tầng mới. Trước kia cho dù mọi người nói đến chữ “cần”, nhưng người ta chủ yếu nói đến cần học cần chính trước hết. Thời thực dân, có người đề cao những người có bằng cấp lớn, có kinh doanh to, có quyền chức trọng, có tiền bạc nhiều. Lao động bị khinh mịêt. Chưa hề có khái niệm “anh hùng lao động”. Khái niệm anh hùng lao động trong tủ tưởng và trong văn chương của Việt Nam mới xuất hiện từ sau cách mạng tháng Tám, từ cuộc kháng chiến khái niệm ấy biểu hiện thực chất của xã hội mới ở nước ta, một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội lấy lao động sản xuất (vật chất, kỹ thuật, tinh thần) làm động lực cơ bản. Trong xã hội mới này, sự chịu khó, chịu khổ, sự làm lụng siêng năng, chăm chỉ vẫn luôn luôn được quý trọng. Nhưng cần cù ở mức đó bây giờ không đủ nữa. Con người lao động phải có ý thức lao động làm chủ xã hội, đem sức lao động cần cù của mình để xây dựng đời mới cho mọi người, lao động có kỹ thuật, có kỷ luật, có năng suất ngày càng cao, càng bớt vất vả; lao động tay chân kết hợp sâu sắc với lao động trí tuệ sáng tạo, lao động trí óc không tách rời nhân dân sản xuất. Sự lao động cần cù không còn là chuyện dạ dày đơn thuần mà đang trở thành một niềm vui, một ý thức giải phóng cơ bản, toàn diện nhất.
8. Lao động, tiêu chuẩn mới để đánh giá đạo đức ngày nay
Từ nghìn xưa, nhân dân nước ta đã đem sự cần cù là một đức tính lớn nhất cơ bản của con người. Ngày nay, từ cách mạng thành công, đức tính cần cù, cần cù lao động càng được đề cao hơn lúc nào hết, phải mau chóng hàn gắn các vết thương sâu của cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm. Phải mau chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội để đem lại ấm no, văn hoá, hạnh phúc cho toàn dân. Ngoài sự cần cù lao động ra không có cách nào khác để đạt mục tiêu thiết thực ấy.
Loạt bài xã luận trên báo Nhân dân đầu năm 1976 (những bài “nguồn gốc của hạnh phúc”, “phong cách lao động xã hội chủ nghĩa”, “không ngừng tăng năng suất lao động”) cho độc giả một số ý kiến hay về tính cần cù lao động trong lịch sử từ nay. “Lao động là nguồn sống duy nhất của từng con người và toàn xã hội. Lao động là động lực phát triển của từng xã hội. Lao động là cơ sở tạo ra con người mới, xã hội mới, tình cảm mới và là nghĩa vụ của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lao động có kỹ thuật, có kỷ luật, có năng suất cao là phong cách lao động của chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa”.
Tất nhiên là để xây dựng một phong cách mới, cần phải đấu tranh mạnh với tàn dư của phong cách lao động cũ hồi thực dân, tư bản còn rớt lại nặng nề ngay cả trong các tầng lớp nhân dân. “Chúng ta cần đấu tranh để xoá bỏ thái độ làm thuê, chống lại thói xấu lười biếng, ăn bám, vô kỷ luật, chỉ biết thu vén lợi ích cho mình không cần biết đến lợi ích tập thể, bớt được việc nào cho mình là hay từng đó, vơ vét được của xã hội và của nhà nước nhiều chừng nào hay chừng nấy, thói xấu chỉ muốn hưởng thụ mà không lao động”.
Sự lao động có kỹ thuật, có kỷ luật có năng suất cao được xem là thước đo giá trị thực sự của mỗi người công dân, mỗi đồng chí cán bộ, mỗi nghành kinh tế văn hoá. “Thước đo chất lượng công tác và giá trị chân chính của mỗi người lao động và mọi ngành kinh tế ngoài số lượng và chất lượng còn có năng suất lao động và hiệu suất công tác cao”.
Sở dĩ như vậy là vì chúng ta phải tuỳ theo từng thời kì lịch sử, phải tuỳ vào nhiệm vụ cách mạng mỗi lúc mà xác định một số tiêu chuẩn chính để qua đó mà nhận định phẩm chất con người; tiêu chuẩn chính của thời bình, thời kì xây dựng toàn diện chỉ có thể là lao động có kỉ luật, có kĩ thuật, có năng suất cao nhằm cải tiến nhanh mạnh, vững chắc lên chủ nghĩa xã hội: “Giá trị của mỗi người ngày hôm nay là tinh thần chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày hôm nay giá trị ấy là hiệu quả công tác và năng suốt lao động vì sự giàu mạnh của đất nước, vì sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên đất nứơc ta và trên thế giới. Nhân dân lao động là những chiến sĩ tiên phong làm cách mạng của mỗi người cao hay thấp là ở những của cải vật chất, giá trị tinh thần mà mỗi người tạo ra cho xã hội”.
Lao động cần cù và sáng tạo là đức tính cổ truyền của người Việt Nam, xây dựng quê hương, giữ gìn độc lập, tạo nền hạnh phúc, mở mạng trí tuệ, đều căn cứ vào sức lao động cần cù và sáng tạo, lao động tay chân như lao động trí óc, lao động nông thôn như lao động thành thị.
9. Vĩ nhân dạy cần kiệm, từ Nguyễn Trãi đến Hồ Chí Minh
Chúng ta đã nói đến văn chương truyền miệng để chứng minh rằng từ nghìn xưa tổ tiên chúng ta đã tán dương đức tính cần cù lao động. Bây giờ chúng ta nói đến văn chương bác học cũng tán dương đức tính ấy.
Trong bài dạy “cần” cho con trai Nguyễn Trãi viết:
“Tay ai thì lại làm nuôi miệng
Làm biếng ngồi ăn lở núi non”.
Và đây là dạy “kiệm”:
“Áo mặc miễn cho ấm cật
Cơm ăn chẳng lọ kém mùi ngon”.
Nhà thơ, mới đó là đại công thần có uy thế lớn ở triều đình, nay về quê hưu trí thì không chỉ có biết xem mặt trời lặn, mặt trăng mọc, trồng cúc, pha trà mà còn phải lo việc cuốc cày, vãi đậu, vãi kê, Nguyễn Trãi tự thuật:
“Ác thỏ tựa thoi xem lặn mọc,
Cuốc cày là thú những chon chăn”
Hoặc là;
“Một cày một cuốc thú nhà quê,
Áng cúc lan chen vãi đậu kê,
Khách đến chim mừng hoa xẩy dộng,
Chè tiên gánh nước nguyệt đeo về”.
Đến đây thì lao động (cày, cấy, trồng trọt, gánh nước) không phải chỉ là một nhu cầu đơn giản của một cuộc sống, mà đã trở thành một lý thú của cuộc sống, một triết lý ở đời, một nhu cầu nội tại của một tâm hồn cao thượng.
Cụ Phan Bội Châu, về già, chú ý làm thơ dạy đạo đức cổ truyền cho thanh niên. Bài “cần kiệm là nguồn gốc bể nhân ái” có những đoạn hay:
“Hỡi người có trí…
Nên kiệm nên cần…
Xưa vua Hạ Vũ
Trị thuỷ tám năm
Một tấc quang âm
Quý hơn thước ngọc
Người ta phải học
Các bậc thánh hiền
Muốn sự làm nên
Chữ cần cốt nhất…”
Trong số các bậc thánh hiền nêu gương cần kiệm cụ Phan Bội Châu có kể đến Lênin:
“Như ông Lênin
Tài cao hơn chúng
Ăn theo lao động
Mặc theo thợ thuyền
Vải mốc bánh đen
Vì ai cơ khổ
Việc không gì khó
Cốt nhất hay cần
Của không sợ bần…
Cốt mình hay kiệm…”
Cụ Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân nói nhiều và viết nhiều về lao động cần cù. Nói chuyện với giáo viên và học sinh của trường Chu Văn An (31/12/1958) Cụ dạy rằng:
“Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi đôi với lao động
- Học đi đôi với thực hành
- Cần cù đi đôi với tiết kiệm…”.
Cụ dặn sinh viên: “Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không yêu lao động thì chỉ là nói suông”(1).
Trong đợt chỉnh huấn cán bộ mùa xuân năm 1961 Hồ Chí Minh huấn thị: “Nước ta còn nghèo, muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động, lao động có nghĩa vụ thiêng liêng là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội không có nghề nào thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ. Người nấu bếp người quét rác, cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu như làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó sợ khổ, muốn ngồi mát ăn bát vàng, người đó mới là kém không phải là con người của xã hội chủ nghĩa.
Mỗi người phải tự giác giữ vững kỷ luật lao động. Thanh niên phải xung phong hăng hái thực hành khẩu hiệu: đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên làm.
Mỗi thứ của chúng ta làm ra phải tốn bao nhiêu sức lao động.
Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống. Tham ô, lãng phí tài sản của nhà nước, của tập thể của nhân dân, là hành động trộm cắp mà ai cũng thù ghét, phải từ bỏ. Ta phải hết sức quý trọng sức người là vốn quý nhất của chúng ta. Chúng ta phải cần hết lòng chăm lo sức khoẻ và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta.
Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách, nêu gương cần kiệm, liêm, chính.
Thế nào là cần, kiệm, liêm, chính? Cụ Hồ tóm tắt:
Cần tức là tăng năng suất trong công tác, bất kì công tác gì.
Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân.
Liêm tức là không tham ô và luôn tôn trọng giữ gìn của công và của nhân dân.
Chính tức là việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh. Với Cụ Hồ cần, kiệm, liêm, chính đi chung với nhau.
10. Phát huy đức “cần” truyền thống và cách mạng
Con người đã “cần” một cách thiết thực trước khi nói triết lí chữ “cần”.
Trước hết con người vì phải sống mà phải cần, dù vất vả mấy đi nữa; rồi sau đó mới ý thức chữ cần như một tính lớn của con người.
Các thần thoại, truyền thuyết của Việt Nam chứng tỏ rằng từ rất lâu đời, từ nhiều nghìn năm trước, tổ tiên chúng ta cần cù trong đời sống thực tế, đồng thời cổ vũ đức tính cần cù bằng những truyện có sức sống rất lâu dài. Nhiều danh nhân, hiền triết, chính khách, thi nhân đã để tâm ca ngợi đức tính cần cù lao động và cổ vũ cho đức tính lớn ấy xem như là một cách hay vào bậc nhất để nên người, nên nhà và dựng nước.
Dân tộc ta không phải chỉ có đức tính cần cù và lao động tay chân được ghi lại trong văn chương bác học (như đã nói ở trên), dân tộc ta cũng có một truyền thống cần cù về lao động trí óc, lao động khoa học. Bậc trí thức khoa học như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú,v.v…tuy không nhiều lắm nhưng mà có, và tới một trình độ mà người đời sau có thể tự hào. Phải rất mực yêu nước mới xem trọng mọi sản phẩm văn hoá, chính trị, học thuật của dân tộc – trong một thời gian mà người người đều vọng ngoại, chỉ muốn đọc sách của Bắc phương - mới tích tụ vô số những sản phẩm của dân tộc ấy, đọc hết, nhớ hết, sắp xếp, phân loại vào đâu đấy, đánh giá rõ ràng cuối cùng làm được tác phẩm như “Lịch triều hiến chương loại chí”. Phải đi ngàn dặm, đọc hết sức nhiều, đi tới đâu cũng ghi cũng chép, cũng suy nghĩ về những điều nghe thấy, đọc được với ra một Lê Quý Đôn với nhiều tác phẩm đáng kể. Phải nếm hàng vạn thứ cỏ cây trong đất nước mình và đồng thời được kích thích bởi lòng ưu ái đối với nhân dân, không chịu bằng lòng với sách vở chính thức về nghề thuốc của Bắc phương, và cố tìm cái thích hợp cho việc nghiên cứu chữa người mình bằng thuốc trên đất nước nhà mới thành một Tuệ Tĩnh. Cũng như phải mất một đời đi xa đi gần, đi mưa đi nắng, xem mạch bốc thuốc cho vạn ức bệnh nhân, ghi chép bằng hà sa số tài liệu, kinh nghiệm thì mới nên danh một Hải Thượng Lãn Ông, để lại cho đời không những là một tấm gương phục vụ cứu nhân độ thế, mà cả một tấm gương khám phá khoa học, xây dựng y đức dân tộc. Sự nghiệp văn hoá khoa học của các cụ cũng to lớn và cũng lâu dài như đắp đê, đào kênh, đáng là những mẫu mực truyền thống về đức tính cần cù lao động trong các ngành văn hoá, khoa học. Đến các cụ thì rõ ràng chữ “cần” là một giá trị đạo đức, một giá trị tinh thần, chỉ liên quan tới ý thức phục vụ con người, làm đẹp đất nước, làm vinh dự dân tộc các điểm lý tưởng ấy thôi thúc ta phải làm việc không biết mệt mỏi, chớ hoàn toàn không phải do một sự cưỡng ép nào của quyền lực, của tư lợi, cả danh dự hão nữa.
Ngày nay, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, truyền thống dân tộc hiệp nhất với truyền thống cách mạng để biến toàn thể nhân dân Việt Nam, lao động tay chân cũng như lao động trí óc, thành những người có văn hoá, có khoa học, có ý thức xây dựng tự do hạnh phúc bằng sức sáng tạo của chính mình. Trước sau như một, nay còn hơn xưa, chữ “cần” là đức tính lớn nhất của dân tộc, là giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Trích trong Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Trần Văn Giàu,
Nxb Khoa học xã hội, 1980.
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|





