Theo sử cũ thì Cổ Điển, Cương Ngô, Đồng Trì là những làng cổ, hình thành từ rất sớm ở mạn hữu ngạn sông Hồng, phía Nam Thăng Long-Hà Nội. Ở giữa cánh đồng làng Cổ Điển, Cương Ngô, Đông Trì, giữa thế kỷ thứ X là bãi chiến trường, diễn ra trận chiến ác liệt giữa Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh dưới trướng hai tướng là Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục đánh trả một trong “Mười hai sứ quân” là Nguyễn Siêu.
Cũng tại 3 làng trên, theo các cụ di chúc lại thì vào khoảng thời nhà Mạc (1527-1591) đã xảy ra vỡ đê sông Hồng, nước xoáy rất mạnh, đã cắt làng Cổ Điển ra thành hai phần, nên mới có tên Cổ Điển trên, Cổ Điển dưới, cát đọng dày cho đến ngày nay. Sau Cách mạng tháng Tám thì đổi là Cổ Điển A, Cổ Điển B.
Cũng theo các cụ già ở địa phương thì ở ngoài làng Văn Điển (giáp quốc lộ 1A) ngay từ thời đó đã có chợ Dáy (tên người lập ra chợ) họp vào các ngày mồng 5, 10, 15, 20, 25, 30 hằng tháng. Ban đầu chợ là những túp lều gồm 4 cọc, mái lợp bằng những tấm phên nứa hoặc rơm rạ, giữa chợ có cây đa cổ thụ-là cái lều lớn của những người nhà quê đem bán ngô, khoai, gạo, cám, gà, chó, cùng với thức ăn nuôi lợn như bèo tây, bèo ta, cây chuối, khoai nước..
Đặc biệt, ở cạnh cây đa có một hòn đá trụ to bằng cây chuối hột, cao hơn đầu người. Các ông Chu Văn Nam, Nguyễn Văn Hồng, ông Tư Thụ, ông Chư Văn Lợi… đều đã ở tuổi 80, người thôn Cổ Điển A, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì còn nhớ như in cảnh chợ Dáy, trước năm 1945, tiêu điều và khi tan chợ thì chỉ còn một mình ông Đớp (mõ) lủi thủi quét dọn và đàn quạ đen chạy lò cò kiếm các thứ mà chúng ăn được.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX có thêm một dãy quán 5 gian, chỉ xây gạch ở hai đầu đốc, còn rui mè bằng tre, lợp ngói mũi dơi. Quán này dành riêng cho những người bán hàng tấm (vải, lụa, khăn vuông, khăn vấn…) và dầu tây (để thắp đèn).
Cũng ở dãy quán này còn là các bà, các ông bán nồi đất, nồi đồng, gương, lược, thông phong đèn và bấc đèn… Các ông còn nhớ được những câu vè xuất hiện từ thời có chợ như:
“Ba bà đi bán lợn con
Bán thời chẳng được lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán thời không được chạy về với con”
“… Mẹ đi chợ Dáy đong ngô
Hai chinh mua cái lược thưa chải đầu”
“Chợ Dáy bánh đúc bẻ ba
Mắm tôm quệt ngược cửa nhà lên mây!”
Nạn đói năm Ất Dậu (1945), mỗi ngày phiên chợ có tới năm - sáu chục người gầy đét vào chợ, vừa để ăn xin vừa để ăn cướp. Có người đứng rình khi bà bán mật mở vung nồi ra, anh ta giả vờ ngã, thục cả hai tay vào nồi mật rồi chạy ra ngã vào thúng cám của người khác, thế là được bữa no nê.
*
* *
Sau khởi nghĩa 19-8-1945 thành công, chợ Dáy trở thành “trường học” chống nạn mù chữ. Hai phía đi vào chợ được dựng hai cái cổng, mỗi cổng có 2 cánh, trên cao của cổng có dòng chữ viết bằng nước vôi trên tấm cót:
“i t (tờ) là đạn là bom
Là súng đại bác bắn đòm thực dân!”
“o, ơ hai chữ khác nhau
Bởi chưng có cái móc câu bên sườn!?”
Nếu ai đi chợ đọc được một chữ cái “nguyên âm” thì được qua cái cánh cổng to, còn ai không đọc được thì phải chui qua cái cánh cổng thấp lè tè. Cái “trường học-chợ” này đã góp phần vào việc xóa nạn mù chữ cho mấy xã quanh vùng. Trong kháng chiến chống Pháp, chợ Dáy là một trung tâm để Việt Minh tuyên truyền chống đi phu, đi lính, đóng thuế cho Pháp, bằng diễn thuyết chớp nhoáng và bằng dán các tờ truyền đơn ở các cột lều chợ…
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chợ Dáy là trung tâm bán phân phối theo tem phiếu các nhu yếu phẩm cần thiết như gạo, sắn, bột mỳ, mỡ, thịt, rau, mắm muối, vải vóc… cho các cơ quan, bộ đội đóng trong huyện Thanh Trì.
Đến năm 2005, trên cái nền đất chợ Dáy cũ, đã xây dựng “Trung tâm dịch vụ Thương mại Thanh Trì”, trên mặt bằng 5.000m2, cao 4 tầng, trong đó chia thành 500 ki-ốt (quầy hàng). Tôi được chứng kiến một cặp vợ chồng làm ruộng đã mua hai đôi kính đeo mắt của ông Nguyễn Hồng, giá 840.000 đồng. Một người khác đến “tậu” cho vợ chiếc nhẫn hơn 8 triệu đồng…
Người dân Thanh Trì rất tự hào về sự đổi thay kỳ diệu của huyện nhà, như cầu vượt sông Hồng, Trung tâm Dịch vụ Thương mại và sân bóng cỡ quốc gia, các thôn làng hầu hết đã thành phố thị...
Cũng tại 3 làng trên, theo các cụ di chúc lại thì vào khoảng thời nhà Mạc (1527-1591) đã xảy ra vỡ đê sông Hồng, nước xoáy rất mạnh, đã cắt làng Cổ Điển ra thành hai phần, nên mới có tên Cổ Điển trên, Cổ Điển dưới, cát đọng dày cho đến ngày nay. Sau Cách mạng tháng Tám thì đổi là Cổ Điển A, Cổ Điển B.
Cũng theo các cụ già ở địa phương thì ở ngoài làng Văn Điển (giáp quốc lộ 1A) ngay từ thời đó đã có chợ Dáy (tên người lập ra chợ) họp vào các ngày mồng 5, 10, 15, 20, 25, 30 hằng tháng. Ban đầu chợ là những túp lều gồm 4 cọc, mái lợp bằng những tấm phên nứa hoặc rơm rạ, giữa chợ có cây đa cổ thụ-là cái lều lớn của những người nhà quê đem bán ngô, khoai, gạo, cám, gà, chó, cùng với thức ăn nuôi lợn như bèo tây, bèo ta, cây chuối, khoai nước..

Chợ hoa Hà Nội.
Đặc biệt, ở cạnh cây đa có một hòn đá trụ to bằng cây chuối hột, cao hơn đầu người. Các ông Chu Văn Nam, Nguyễn Văn Hồng, ông Tư Thụ, ông Chư Văn Lợi… đều đã ở tuổi 80, người thôn Cổ Điển A, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì còn nhớ như in cảnh chợ Dáy, trước năm 1945, tiêu điều và khi tan chợ thì chỉ còn một mình ông Đớp (mõ) lủi thủi quét dọn và đàn quạ đen chạy lò cò kiếm các thứ mà chúng ăn được.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX có thêm một dãy quán 5 gian, chỉ xây gạch ở hai đầu đốc, còn rui mè bằng tre, lợp ngói mũi dơi. Quán này dành riêng cho những người bán hàng tấm (vải, lụa, khăn vuông, khăn vấn…) và dầu tây (để thắp đèn).
Cũng ở dãy quán này còn là các bà, các ông bán nồi đất, nồi đồng, gương, lược, thông phong đèn và bấc đèn… Các ông còn nhớ được những câu vè xuất hiện từ thời có chợ như:
“Ba bà đi bán lợn con
Bán thời chẳng được lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán thời không được chạy về với con”
“… Mẹ đi chợ Dáy đong ngô
Hai chinh mua cái lược thưa chải đầu”
“Chợ Dáy bánh đúc bẻ ba
Mắm tôm quệt ngược cửa nhà lên mây!”
Nạn đói năm Ất Dậu (1945), mỗi ngày phiên chợ có tới năm - sáu chục người gầy đét vào chợ, vừa để ăn xin vừa để ăn cướp. Có người đứng rình khi bà bán mật mở vung nồi ra, anh ta giả vờ ngã, thục cả hai tay vào nồi mật rồi chạy ra ngã vào thúng cám của người khác, thế là được bữa no nê.
*
* *
Sau khởi nghĩa 19-8-1945 thành công, chợ Dáy trở thành “trường học” chống nạn mù chữ. Hai phía đi vào chợ được dựng hai cái cổng, mỗi cổng có 2 cánh, trên cao của cổng có dòng chữ viết bằng nước vôi trên tấm cót:
“i t (tờ) là đạn là bom
Là súng đại bác bắn đòm thực dân!”
“o, ơ hai chữ khác nhau
Bởi chưng có cái móc câu bên sườn!?”
Nếu ai đi chợ đọc được một chữ cái “nguyên âm” thì được qua cái cánh cổng to, còn ai không đọc được thì phải chui qua cái cánh cổng thấp lè tè. Cái “trường học-chợ” này đã góp phần vào việc xóa nạn mù chữ cho mấy xã quanh vùng. Trong kháng chiến chống Pháp, chợ Dáy là một trung tâm để Việt Minh tuyên truyền chống đi phu, đi lính, đóng thuế cho Pháp, bằng diễn thuyết chớp nhoáng và bằng dán các tờ truyền đơn ở các cột lều chợ…
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chợ Dáy là trung tâm bán phân phối theo tem phiếu các nhu yếu phẩm cần thiết như gạo, sắn, bột mỳ, mỡ, thịt, rau, mắm muối, vải vóc… cho các cơ quan, bộ đội đóng trong huyện Thanh Trì.
Đến năm 2005, trên cái nền đất chợ Dáy cũ, đã xây dựng “Trung tâm dịch vụ Thương mại Thanh Trì”, trên mặt bằng 5.000m2, cao 4 tầng, trong đó chia thành 500 ki-ốt (quầy hàng). Tôi được chứng kiến một cặp vợ chồng làm ruộng đã mua hai đôi kính đeo mắt của ông Nguyễn Hồng, giá 840.000 đồng. Một người khác đến “tậu” cho vợ chiếc nhẫn hơn 8 triệu đồng…
Người dân Thanh Trì rất tự hào về sự đổi thay kỳ diệu của huyện nhà, như cầu vượt sông Hồng, Trung tâm Dịch vụ Thương mại và sân bóng cỡ quốc gia, các thôn làng hầu hết đã thành phố thị...
Ngọc Minh
| Tiếp theo > |
|---|





